VĂN HOÁ
GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG-KỸ THUẬT
Bánh nguội
Silent Night
Photoshop
Bơi lội với năm đầu tiên của bé
Sing for the Climate
Who are you in the furture?
Tóc cũng cãi nhau ...
Số lượt truy cập
5330285
Số người đang xem
56


VĂN HOÁ > TaLaWho? - Ta là Tao! > Đãi chữ - Đãi sách >


Phản tác dụng của lời khen (1)



Chúng ta nghĩ gì về cậu bé Thomas? (xem ảnh trên)

Thomas là một học sinh lớp năm của một ngôi trường có đầu vào rất cao, trường PS334 Anderson. Gần đây Thomas đã đi cắt mái tóc thưa, dài vàng hoe của mình để trông giống điệp viên James Bond (cậu ta mang ảnh của diễn viên Daniel Craig cho ông thợ cắt tóc xem). Không như Bond, cậu ta thích mặc đồng phục quần túi hộp nam và áo phông có in ảnh của thần tượng của cậu: Frank Zappa. Thomas thường chơi đùa với năm người bạn khác cùng học ở trường Anderson.

Chúng đều là “những đứa trẻ thông minh”. Thomas thuộc một trong số đó và cậu ta cảm thấy thoái mái với nhóm bạn của mình.

Từ khi bắt đầu biết đi Thomas luôn được người lớn khen là thông minh. Không chỉ có bố mẹ mà bất cứ người nào tiếp xúc với đứa trẻ “khôn trước tuổi” này. Khi bố mẹ cậu nộp đơn xin vào học ở nhà trẻ Anderson, trí tuệ của cậu đã được khẳng định với bằng chứng rõ ràng. Trường này chỉ dành cho tốp 1% trong số những đứa trẻ nộp đơn vào. Quá trình tuyển chọn đòi hỏi kiểm tra IQ.Thomas không chỉ nằm trong tốp 1% mà cậu còn đứng trong tốp 1% của 1% này.

Như khi Thomas bắt đầu học lên, ý thức được sư thông minh của mình không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc học hành một cách nhẹ nhàng. Trên thực tế cha của Thomas lại thấy điều ngược lại. “Thomas không muốn làm cái gì mà nó cảm thấy không giỏi”, cha Thomas nói. “Trừ những cái nó làm rất dễ dàng, những cái nào hơi đòi hỏi cố gắng một chút là nó bỏ cuộc ngay lập tức, và kết luận ‘Mình chẳng có khiếu về cái này’. Dựa trên cách nhìn nhận tức thời này, thế giới của Thomas được phân thành hai nhóm, những thứ mà nó có năng khiếu và những thứ nó không có.

Ví dụ ở những năm đầu cấp I, Thomas đánh vần không thạo lắm, vì thế cậu ta cứ lẩn tránh việc đánh vần thành tiếng. Ngay lần đầu khi học về tỉ số, Thomas cũng lẩn tránh ngay lập tức. Chướng ngại lớn nhất xảy ra ở năm lớp 3. Cậu phải học môn Tập viết chữ đẹp. Nhưng cả mấy tuần cậu chẳng chịu cầm bút luyện chữ. Đến khi GV yêu cầu làm bài tập về môn này, thay vì dành thời gian cố gắng luyện viết bù lại cho thời gian đã mất thì cậu ta chối thẳng việc làm bài tập. Cha của Thomas đã cố gắng giải thích cho cậu “Này, chỉ vì con thông minh thì không có nghĩa là con không phải cố gắng.” (Sau cùng thì cậu ta cũng học được kỹ thuật viết chữ đẹp, nhưng cha cậu phải mất rất nhiều thời gian dỗ dành.)

Tại sao đứa trẻ này, một đứa trẻ đứng đầu về trí tuệ, lại thiếu sự tự tin về khả năng đối phó với những vấn đề bình thường trong học tập?

Thomas không phải là đứa trẻ duy nhất. Trong vài thập kỷ người ta để ý rằng một tỉ lệ lớn tất cả những đứa trẻ có tài năng (thuộc nhóm có điểm tài năng trong top 10%) đều đánh giá rất thấp khả năng của chúng. Những đứa trẻ nghĩ rằng mình thiếu năng lực thường chấp nhận mức độ thành công thấp hơn và kỳ vọng ít hơn vào bản thân. Chúng đánh giá không đúng mức tầm quan trọng của nỗ lực, và chúng cho rằng mình sẽ cần nhiều sự giúp đỡ từ phía cha mẹ.

Khi các bậc phụ huynh khen ngợi trí thông minh của con cái họ, họ tưởng rằng đây là cách giải quyết vấn đề. Theo một điều tra do Đại học Columbia tiến hành, 85% các bậc phụ huynh ở Mỹ tin rằng phải nói cho con cái họ biết là chúng thông minh. Chung quanh khu vực New York, theo điều tra của tôi (đương nhiên là không đảm bảo tính khoa học) thì con số này phải là 100%. Ai cũng đều làm điều đó, theo thói quen. Việc cha mẹ khen con cái thường xuyên là có ý đồ làm nó trở thành một cái bùa để đảm bảo con cái họ không đánh giá thấp khả năng của chúng.

Nhưng càng có nhiều nghiên cứu, và một nghiên cứu mới về thành trì kiên cố của hệ thống giáo dục công ở New York đã chỉ ra một cách mạnh mẽ rằng có thể điều ngược lại mới đúng. Gắn các mác “thông minh” cho những đứa trẻ sẽ không ngăn được chúng không thể hiện đúng khả năng của mình. Thực tế nó còn có thể là nguyên nhân gây ra điều đó.

Trong mười năm qua nhà Tâm lý học Carol Dweck và nhóm của bà ở ĐH Columbia (hiện nay bà đã chuyển sang ĐH Stanford) đã nghiên cứu về hiệu quả của việc khen ngợi học sinh ở một số trường ở New York. Nghiên cứu có ảnh hưởng của bà – một loạt các thí nghiệm thực hiện trên 400 học sinh lớp năm – đã cho ta thấy bức tranh này rõ nhất.

Dweck phái bốn trợ lý nghiên cứu đến các lớp học có học sinh lớp năm ở New York. Họ sẽ chọn ra một học sinh và cho làm bài kiểm tra IQ trên giấy, bao gồm một loạt các câu đố. Các câu đố này đủ dễ để tất cả những đứa trẻ được chọn đều làm khá tốt. Sau khi đứa trẻ hoàn thành bài kiểm tra, những nghiên cứu viên sẽ báo điểm cho từng học sinh, đồng thời sẽ đưa ra một lời khen duy nhất cho chúng. Số trẻ được chọn được phân ngẫu nhiên thành các nhóm. Một số được khen vì sự thông minh của chúng. Họ sẽ khen “Cháu giỏi về cái này thật”. Một số khác được khen vì sự nỗ lực của chúng. “Cháu đã rất có cố gắng.”

Tại sao chỉ một lời khen duy nhất? “Chúng tôi muốn xem bọn trẻ nhạy cảm với điều này đến đâu. Chúng tôi có dự cảm là chỉ một lời khen cũng đủ để thấy hiệu quả.” Dweck giải thích.

Sau đó bọn trẻ được cho làm bài kiểm tra vòng hai, và chúng được quyền chọn loại bài kiểm tra nào mà chúng thích. Một là bài kiểm tra khó hơn bài đầu, nhưng các nghiên cứu viên sẽ bảo với bọn trẻ là chúng sẽ học hỏi được nhiều điều khi làm các câu hỏi trong bài kiểm tra này. Sự lựa chọn còn lại là bài kiểm tra dễ, giống như bài đầu tiên vậy. Trong số những đứa trẻ được khen vì đã cố gắng, 90% chọn loại bài kiểm tra khó hơn. Trong số những đứa trẻ được khen vì trí thông minh, phần lớn chọn bài kiểm tra dễ. Như vậy là những đứa trẻ “thông minh” đã tìm cách trốn tránh.

Tại sao điều này xảy ra? “Khi ta khen con cái mình thông minh ta ngầm nói với chúng rằng điều quan trọng nhất là: hãy tỏ ra thông minh, đừng dại mà mắc sai lầm.” Dweck viết trong tóm tắt nghiên cứu của bà. Và đó chính là những gì các học sinh lớp 5 này đã làm: Chúng chọn được coi là thông minh và tránh nguy cơ bị mất mặt.

Ở vòng kiểm tra tiếp theo, bọn trẻ lớp 5 này không có quyền chọn bài kiểm tra nữa. Bài kiểm tra này rất khó, được dành cho các học sinh trình độ lớp 7 lớp 8. Đúng như dự kiến, tất cả đều không làm tốt. Tuy nhiên phản ứng của hai nhóm học sinh, được phân ngẫu nhiên khi bắt đầu thí nghiệm, không giống nhau. Những đứa trẻ được khen vì sự cố gắng ở bài kiểm tra đầu cho rằng chúng chưa tập trung đúng mức vào bài kiểm tra này. “Chúng rất tập trung và chịu khó tìm các cách để giải ra bài toán đã cho. Nhiều đứa còn nhận xét một cách vô tư rằng ‘em thích loại bài kiểm tra này’, Dweck nhớ lại. Bọn trẻ được khen thông minh thì không như vậy. Chúng cho rằng sự thất bại của mình là bằng chứng cho thấy chúng chẳng thông minh chút nào. “Nếu bạn có ở đó, bạn sẽ thấy sự căng thẳng. Bọn trẻ vã mồ hôi ra và trông rất thảm.”

Sau khi đã tạo ra một sự thất bại có chủ định, các nghiên cứu viên của Dweck cho tất cả học sinh ở hai nhóm làm một bài kiểm tra cuối cùng. Bài kiểm tra này được soạn với mức độ dễ như bài kiểm tra đầu tiên. Những học sinh được khen vì đã có cố gắng đạt điểm cao hơn nhiều so với điểm số ở bài kiểm tra đầu tiên của chúng – khoảng 30%. Những đứa trẻ được khen là thông minh làm bài tệ hơn so với bài kiểm tra đầu tiên và đạt điểm thấp hơn trước khoảng 20%.

Trước đó Dweck đã ngờ rằng khen ngợi có thể gây phản tác dụng. Nhưng bà còn ngạc nhiên hơn về mức độ phản tác dụng của chúng. “Khi nhấn mạnh đến sự cố gắng là ta đã trao cho đứa trẻ một cái gì đó chúng có thể kiểm soát. Chúng sẽ nhận ra rằng mình có thể kiểm soát được mức độ thành công của bản thân. Nhấn mạnh vào trí thông minh bẩm sinh sẽ tước đi của đứa trẻ sự kiểm soát này, và nó cũng lấy mất công thức phản ứng với một thất bại.”

Trong những cuộc phỏng vấn tiếp theo trong khuôn khổ đề tài, Dweck phát hiện ra rằng những đứa trẻ nghĩ rằng thông minh là chìa khóa để thành công sẽ coi thường tầm quan trọng của sự nỗ lực. Tôi giỏi, tôi không cần cố gắng. Đó là suy nghĩ của những đứa trẻ này. Nỗ lực trở thành cái gì đó bị xem thường – nó là một bằng chứng hiển hiện rằng bạn không thể làm điều gì đó dựa vào tài năng của mình.

Lặp lại các thí nghiệm của mình Dweck phát hiện ra rằng hiệu ứng này của việc khen ngợi áp dụng cho với mọi tầng lớp kinh tế xã hội. Nó áp dụng cả cho nam sinh lẫn nữ sinh – đặc biệt là những học sinh nữ thông minh nhất (chúng suy sụp nhất sau khi thất bại). Thậm chí trẻ em mẫu giáo cũng không bị miễn nhiễm với phản tác dụng của sự khen ngợi.

Jill Abraham là một bà mẹ ba con ở Scardale. Quan điểm của bà khá điển hình cho những người được tôi hỏi về vấn đề này. Khi tôi kể cho bà ấy nghe về nghiên cứu của Dweck, bà hoàn toàn không quan tâm đến những bài kiểm tra nhanh đó trừ phi có những kết quả dài hạn tiếp theo. Abraham là một trong số 85% những người tin rằng khen con mình thông minh là một điều rất quan trọng. Bọn trẻ của bà rất thành công, vì thế bà đã chứng minh được việc khen ngợi có tác dụng thực tế. “Tôi chả để ý các chuyên gia nói gì. Tôi có bằng chứng sống.” Jill phủ định một cách chắc nịch.

Thậm chí đối với những người chấp nhận kết quả nghiên cứu này, họ gặp khó khăn trong việc vận dụng nó vào thực tiễn. Sue Needleman là một bà mẹ hai con, đồng thời là một giáo viên tiểu học có 11 năm kinh nghiệm. Năm ngoái bà dạy lớp 4 ở Trường Ridge Ranch ở Paramus, New Jersey. Bà chưa bao giờ nghe đến cái tên Carol Dweck, nhưng tinh thần của nghiên cứu của Dweck đã lan tỏa xuống trường của bà. Needleman đã được học để nói câu “Cô thích sự nỗ lực của em.” Bà cố gắng giữ cho lời khuyên của mình cụ thể thay vì chung chung, để đứa trẻ biết nó đã làm gì mà được khen (và vì thế phải làm gì để tiếp tục được khen). Thỉnh thoảng bà sẽ nói với một học sinh, “Em giỏi toán lắm”. Nhưng bà sẽ không bao giờ nói một đứa trẻ dốt toán.

Nhưng đó là ở trường, với tư cách là một giáo viên. Ở nhà việc thay đổi thói quen thực sự rất khó. Cô con gái 8 tuổi và cậu con trai 5 tuổi của bà thực sự thông minh, và đôi khi bà buột miệng “ Con làm được rồi. Con tuyệt lắm. Con thông minh lắm.” Khi tôi thúc dục bà về điều này, Needleman thổ lộ rằng bà cảm thấy mấy kết quả nghiên cứu khoa học thường không được tự nhiên lắm. “Khi mình đọc mấy câu tập luyện khen ngợi cho GV, ngay lập tức mình nghĩ : Ôi trời, toàn thứ cũ rích.”

Ở trường Khoa học tự nhiên cấp II ở Đông Harlem, sự băn khoăn này không tồn tại bởi các GV đã chứng kiến lý thuyết của Dweck áp dụng đúng cho học sinh của mình như thế nào. Tuần rồi, Dweck và học trò cưng của bà, Lisa Blackwell đã xuất bản một bài báo cáo trên tạp chí khoa học có tên là Phát triển tâm sinh lý trẻ em, về tác dụng của một nghiên cứu kéo dài nguyên một học kỳ nhằm cải thiện điểm số của học sinh ở môn Toán.

Trường khoa học tự nhiên cấp II này là một trường định hướng về khoa học sự sống với nhiều học sinh giỏi, ngoại trừ 700 học sinh có hai đặc điểm nổi trội là thuộc nhóm dân tộc thiểu số và kết quả học tập kém. Blackwell chia bọn trẻ thành hai nhóm để tập huấn trong 8 buổi. Nhóm đối chứng chỉ được học về kiến thức trong khi nhóm còn lại được học về kiến thức kèm theo một mô-đun đặc biệt về sự thông minh không có tính bẩm sinh. Những học sinh trong nhóm này sẽ thay nhau đọc thành lời một bài luận về việc não bộ phát triển những neuron mới như thế nào khi nó được thử thách. Chúng được xem các lát cắt về não bộ và được chơi đùa hoặc diễn các trò chơi đùa với nhau. “Thậm chí khi tôi đang dạy về những điều này, tôi vẫn nghe bọn trẻ gọi nhau là “đần”, “ngu”. Blackwell nhận xét. Sau khi kết thúc đợt tập huấn, Blackwell theo dõi điểm số của học sinh ở hai nhóm xem việc tập huấn có hiệu quả gì không?

Chẳng cần phải chờ lâu. Các giáo viên (không biết rõ học sinh nào thuộc nhóm nào) có thể chỉ ra những học sinh đã được học rằng thông minh có thể rèn luyện mà có. Bọn chúng thay đổi phương pháp học tập và đạt kết quả cao hơn. Chỉ trong một học kỳ, Blackwell đã đổi ngược hoàn toàn xu hướng đạt kết quả kém trong môn toán trong nhiều năm qua.
Sự khác nhau duy nhất giữa hai nhóm đối chứng và nhóm điều tra chỉ là hai tiết học, tổng cộng kéo dài 50 phút, không dạy về kiến thức toán mà chỉ là một ý tưởng đơn giản: bộ não là một cơ bắp. Rèn luyện nhiều sẽ giúp bạn thông minh hơn. Chỉ điều đó đã giúp cải thiện kết quả môn Toán của bọn trẻ.

“Đây là một phát hiện rất thuyết phục” theo lời Ts Geraldine Downey ở ĐH Columbia, một chuyên gia về vấn đề nhạy cảm của trẻ em khi bị hắt hủi. “Nó cho thấy bạn có thể chọn ra một lý thuyết cụ thể và phát triển nó thành một chương trình giảng dạy có hiệu quả."
 
 
 
 
 
Bình luận
Thứ sáu, ngày 4/9/2026
VIỆT NAM - Tổ quốc Tao
TaLaWho? - Ta là Tao!
Lẩm & Lẩn
Góc Bạn bè
Đãi chữ - Đãi sách
Thời đại @
DU LỊCH THIỀN
Sắc màu cuộc sống
Piphotography
Bánh nóng
Models - Mẫu
Food Photography
Brownies
Photoshop
Photo Collection
Technics - Tips
Lifestreet
Landscape
Portrait